Những lưu ý cần thiết về kiến trúc của một trường mầm non đạt chuẩn

Trong xã hội đang ngày càng phát triển, nhân tài luôn luôn được trọng dụng, cùng với đó nền giáo dục mỗi quốc gia cần phải được chú trọng và phát triển nhiều hơn. Đào tạo để trở thành những con người có ích cho xã hội, đặc biệt là định hướng những trẻ nhỏ ngay từ những ngày đầu tiếp súc với môi trường giáo dục. Chính vì vậy, việc lựa chọn cho các bé mẫu trường không chỉ quan tâm tới học tập lý thuyết cơ sở mà còn giúp bé phát triển tối đa về thể chất và những kĩ năng mềm, thể hiện hết bản thân và học cách sống tự lập là vấn đề rất quan trọng mà các bậc phụ huynh cần lưu tâm.

Để thuyết phục được các bậc phụ huynh cho con nhỏ của mình theo học tại trường, các chủ đầu tư là tư nhân, nhà nước, nước ngoài phải đầu tư thiết kế và xây dựng được ngôi trường đạt tiêu chuẩn quốc gia về trường mầm non cả về chất lượng giảng dạy lẫn chất lượng vật chất.

trường mầm non iq

Vậy thiết kế một ngôi trường mầm non đạt tiêu chuẩn được quy định như thế nào? Công ty kiến trúc xây dựng Happy Home sẽ thống kê một số tiêu chuẩn phải đáp ứng sau đây:

Phòng ngủ và phòng sinh hoạt

Phòng ngủ và phòng sinh hoạt đạt tiêu chuẩn ở các trường mầm non phải đảm bảo luôn luôn thoáng mát, đầy đủ ánh sáng, không ẩm mốc, tối thiểu 2,2m/ cháu. Hành lang đủ yêu cầu trên 3m, thiết kế có thêm hành lang phía sau sẽ càng tốt.

5 loại rau củ ăn dặm và thời điểm cho bé làm quen

Ngoại trừ khoai tây thì cần tây, ngô, cà tím và củ cải ít khi được các mẹ chú trọng khi con đang tập ăn dặm.

1. Khoai tây

– Giá trị dinh dưỡng: Khoai tây giàu tinh bột, vitamin A, C và kali. Một củ khoai tây hấp chứa đến 252 kalo. Vì khoai tây giàu tinh bột nên khi cho bé ăn khoai tây, mẹ nên giảm đi một chút cháo/ bột trong khẩu phần ăn hàng ngày của bé.

– Thời điểm cho bé tập ăn khoai tây: Vì khoai tây rất giàu tinh bột và không có nhiều các loại vitamin khác nên các bác sĩ dinh dưỡng khuyên các mẹ nên cho bé làm quen với loại củ này khi bé được 8 tháng tuổi. Lý do: thời điểm này, bé cần nhiều carbonhydrat để phát triển và khoai tây có thể đáp ứng nhu cầu này.

– Cách chế biến: Cách đơn giản nhất là gọt vỏ khoai tây, thái làm 4 rồi cho vào nồi hấp. Khi khoai tây chín các mẹ có thể lấy ra dầm nhuyễn cho bé ăn. Ngoài ra mẹ có thể xắt hạt lựu để bé tập ăn bốc.

2. Cần tây

Rất nhiều mẹ cho rằng cần tây là thực phẩm không phù hợp với bé đang tuổi tập ăn dặm. Tuy nhiên cần tây lại chứa rất nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho bé.

– Giá trị dinh dưỡng: Cần tây chứa nhiều kali, vitamin K – loại vitamin tốt cho máu, giúp cân bằng huyết áp. Đoạn phình ra trên thân cây cần tây là nơi tập trung nhiều vitamin C, phôtpho, magiê, vitamin B6 và chất xơ.

– Thời điểm cho bé tập ăn cần tây: Các chuyên gia dinh dưỡng cho rằng khi bé khoảng 8 tháng tuổi, mẹ có thể cho con tập ăn cần tây. Cần tây nấu bột (cháo) với thịt bò, thịt lợn; khoai tây, cà chua, carrot; hải sản… cho bé từ 8 tháng.

– Cách chế biến: Các mẹ hãy coi cần tây như một loại rau xanh hữu ích cho bé. Khi chế biến cần tây, người ta thường sử dụng phần thân của cây cần. Cách chế biến cần tây cũng tương tự cách sơ chế các loại rau xanh khác dành cho bé ăn dặm nên rất đơn giản. Cần tây kết hợp tốt với dầu olive, thịt bò, thịt lợn; khoai tây, cà chua, carrot; cá, hải sản khác… đều thơm ngon.

3. Cà tím

Rất ít mẹ cho bé tập ăn cà tím. Tuy nhiên đây lại là một thiếu sót.

– Giá trị dinh dưỡng: Cà tím có nhiều chất xơ nên giúp bé đi ngoài đều đặn và có đường ruột khỏe mạnh. So với các loại củ, quả khác thì cà tím không ‘dồi dào năng lượng’ nhưng nó giàu vitamin A và folate. Ngoài ra, cà tím còn có canxi và một hàm lượng nhỏ vitamin K.

– Thời điểm cho bé tập ăn cà tím: Các chuyên gia dinh dưỡng khuyên, cha mẹ có thể cho bé làm quen với món cà tím khi bé được khoảng 8-10 tháng tuổi. Có thể cho bé ăn cà được nấu chín cả vỏ; với nhóm bé có vấn đề về tiêu hóa, chỉ nên chế biến lớp thịt của quả cà (trừ vỏ).

– Cách chế biến: Mẹ có thể hấp chín cà tím và thái hạt lựu (hoặc thái lát mỏng, mềm) rồi cho bé dùng tay ăn bốc. Cà tím còn thích hợp khi được nấu thành nước sốt hoặc nướng nhưng hấp là cách tốt nhất nếu bạn muốn cho bé tập ăn cà tím.

4. Củ cải

Cũng giống như cà tím và cần tây, củ cải là một trong những thực phẩm ít được các mẹ bổ sung vào thực đơn của bé vì nghĩ nó không nhiều chất, bên cạnh đó lại có mùi hăng hăng khó ăn nên sợ bé không ăn được.

– Giá trị dinh dưỡng: Củ cải giàu vitamin C, canxi, một ít chất xơ và protein. Cũng giống như một số loại rau củ khác, củ cải chứa chất ngọt tự nhiên, giúp bé ngon miệng.

– Thời điểm cho bé tập ăn: Cha mẹ có thể tập cho bé ăn củ cải khi bé được khoảng 6-8 tháng tuổi. Cũng có thể cho bé ăn củ cải muộn hơn, ngoài 8 tháng tuổi vì củ cải được luộc (hấp) chín, cắt hình hạt lựu khá phù hợp khi cho bé ăn bốc.

– Cách chế biến: Củ cải gọt vỏ, thái dạng hạt lựu, hấp chín và cho bé dùng tay bốc ăn. Hoặc bạn có thể luộc lên rồi cắt miếng nhỏ cho bé ăn sẽ rất ngọt miệng.

5. Bắp ngô

– Giá trị dinh dưỡng: Ngô chứa nhiều protein và carbonhydrate, giúp bé tăng năng lượng. Tuy nhiên, ngô lại nghèo dinh dưỡng hơn các loại thực phẩm khác và không được coi là thực phẩm an toàn cho bé mới ăn bốc.

– Thời điểm cho bé tập ăn ngô: Một số chuyên gia gợi ý, cha mẹ chỉ nên cho bé ăn ngô khi bé được khoảng 1 tuổi. Nguyên nhân là do ngô có khả năng gây dị ứng cao; đồng thời, nó cũng tiềm ẩn nguy cơ gây hóc cho bé.

– Cách chế biến: Ngô được luộc chín và nghiền nhuyễn hoặc cho bé ăn cả hạt (tùy vào độ tuổi của bé). Ngoài ra, có thể tách hạt ngô, bỏ vào nồi ninh hoặc hấp cho đến khi hạt ngô chín mềm.

Một số bệnh thường gặp và cách chăm sóc bé khi giao mùa

MỘT SỐ BỆNH THƯỜNG GẶP

Giao mùa là thời điểm số lượng trẻ nhập viện tăng vọt do khí hậu thay đổi khiến “bùng nổ” những tác nhân gây bệnh mới, nếu không kịp thời chữa trị có thể nguy hại đến tính mạng trẻ.
Đây là một số căn bệnh phụ huynh cần lưu ý để đề phòng và chăm sóc cho con hoặc có cách chữa trị kịp thời trước khi bệnh có thể gây ra những biến chứng khó lường.

Bệnh tiêu chảy

Nhiều người tưởng rằng trẻ chỉ bị tiêu chảy vào mùa hè nhưng thực tế trẻ cũng dễ mắc bệnh này vào mùa thu và mùa đông.
Bệnh gây ra bởi virus Rota. Khi nhiễm loại virus này, thời gian ủ bệnh thường từ 1 – 3 ngày. Ban đầu, trẻ có thể xuất hiện triệu chứng cảm lạnh và thêm vài dấu hiệu của sự nhiễm trùng đường hô hấp, biểu hiện qua việc trẻ bị sổ mũi, sốt. Thậm chí ở một số trẻ khác còn xuất hiện nôn mửa đi kèm với đau bụng.
Sau từ 12 – 24 giờ, trẻ sẽ đi ngoài liên tục, có thể lên đến hàng chục lần mỗi ngày và phân có mùi tanh. Khi thấy con có những triệu chứng đó, người lớn không nên lo lắng mà vội vàng cho trẻ dùng ngay kháng sinh vì sẽ không mấy có hiệu quả, thậm chí còn gây rối loạn đường ruột khiến bệnh trầm trọng hơn. Lúc này bác sĩ khuyên bạn chỉ nên cho trẻ uống thật nhiều nước đường để chống hạ đường huyết và mất nước trong cơ thể.
Tuy nhiên, khi bù nước cho trẻ, bạn cũng chỉ nên cho trẻ uống với số lượng nhỏ, từ 10 – 20ml mỗi lần, thời gian uống nên cách nhau 6 đến 8 phút. Ngoài ra, khi cho trẻ dùng thức ăn thì chỉ cho ăn với liều lượng ít một để cơ thể bé không bị mệt mỏi.
Sự lây lan của virus Rota thường thông qua đường miệng, quá trình hô hấp. Vì vậy, người lớn cần chú ý vệ sinh an toàn thực phẩm, khử trùng dụng cụ nấu ăn trước khi nấu nướng.
Thực phẩm cần đặt nơi sạch sẽ thoáng mát. Đặc biệt, không để con tiếp xúc với những trẻ đang mắc bệnh.

Viêm phế quản

Sự thay đổi thời tiết đột ngột lúc giao mùa cũng dễ khiến trẻ bị viêm phế quản. Nguyên nhân gây bệnh có rất nhiều, do dị ứng với phấn hoa, hít phải các chất kích thích như khói thuốc, sợi bông hoặc len…
Biểu hiện của bệnh là trẻ gặp khó khăn khi thở, hơi thở nặng nhọc, giọng khò khè, ho nhiều và xuất hiện đờm. Khi thấy đờm của trẻ có màu vàng trắng tức là trẻ đã bị nhiễm trùng thứ cấp. Lúc này, người lớn không nên khiến trẻ cáu kỉnh vì khi đó trẻ sẽ hét to, việc hô hấp sẽ gặp khó khăn.
Đối với những trẻ bị viêm phế quản, việc chăm sóc trẻ nên có những lưu ý sau:
– Luôn giữ ấm cơ thể cho trẻ, đặc biệt là vào ban đêm.
– Chú ý chế độ dinh dưỡng, bổ sung nhiều nước và rau tươi. Trẻ bị viêm phế quản thường tiêu hóa kém nên cơ thể không hấp thu được nhiều chất dinh dưỡng, vì thế, khi nấu thức ăn cho trẻ, người lớn nên chia thành nhiều bữa nhỏ và nấu dạng lỏng để trẻ tiêu hóa dễ dàng hơn.
– Nếu trong quá trình điều trị mà trẻ xuất hiện nhiều đờm, người lớn nên khuyên trẻ nhổ ra ngoài chứ không được nuốt. Nên để trẻ nằm nghiêng để dễ thở và cũng thuận lợi cho quá trình đào thải các chất nhầy trong cơ thể.
– Người lớn nên chú ý, tuyệt đối không nhiệt độ cơ thể trẻ lên quá 38,5 độ. Khi con sốt cao, hãy kịp thời hạ sốt, lấy nước mát để làm dịu cơ thể và cho trẻ mặc đồ thoáng.
– Để trẻ nằm phòng thoáng, đủ ánh sáng và duy trì độ ẩm nhất định giúp trẻ không gặp khó khăn khi hô hấp. Đặc biệt, khi trong nhà có trẻ bị viêm phế quản thì người lớn tuyệt đối không được hút thuốc vì điều này gây bất lợi cho quá trình điều trị bệnh

Trẻ bị cúm

Cúm là căn bệnh xuất hiện nhiều vào cuối thu, mùa đông và “bùng nổ” vào đầu xuân. Trẻ em là nhóm mắc căn bệnh này nhiều nhất do sức đề kháng thấp khiến virus cúm dễ dàng xâm nhập cơ thể.
Triệu chứng bệnh là trẻ hay bị sốt, thỉnh thoảng cảm thấy lạnh, đau đầu, chóng mặt, ho, đau họng, nghẹt mũi và chán ăn. Tùy điều kiện sống mà thời gian bệnh kéo dài hay rút ngắn, giảm nhẹ hoặc nghiêm trọng hơn, thậm chí một số bệnh cúm còn khiến trẻ tử vong.
Vì vậy, cha mẹ tuyệt đối không xem nhẹ căn bệnh này. Hãy đưa con đến các cơ sở y tế càng sớm càng tốt.
Khi chăm sóc trẻ bị cúm, người lớn cần chú ý những điều sau:
– Trang phục của trẻ cần được thay đổi phù hợp với thời tiết.
– Khuyến khích trẻ tham gia hoạt động thể thao để có cơ hội hít thở không khí trong lành, tăng cường trao đổi chất.
– Giữ không khí trong nhà luôn thoáng mát, không ẩm mốc.
– Đối với trẻ những tháng đầu đời thì hãy cho con bú sữa mẹ. Trẻ bắt đầu ăn dặm được thì nên bổ sung nhiều rau, hoa quả và cho trẻ ăn chín.
– Chú ý tới giấc ngủ của trẻ. Hãy đảm bảo trẻ ngủ trong môi trường thoáng gió và thoải mái.
Hãy bảo vệ sức khỏe con bạn trước các mầm bệnh chỉ bằng những cách thức hết sức đơn giản.

CHĂM SÓC SỨC KHỎE CHO BÉ KHI GIAO MÙA

Tháng 9, tháng 10 chính là khoảng thời gian giao mùa, khí hậu bắt đầu ẩm ướt tạo điều kiện thuận lợi cho các ổ dịch bệnh, vi trùng phát sinh. Đó là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh như cúm, cảm lạnh, viêm phổi, bệnh sốt ban đỏ, thủy đậu và bệnh tay chân miệng…
Vậy làm cách nào để bảo vệ con bạn tránh khỏi những mầm bệnh nguy hiểm đang đe dọa đến sức khỏe của bé yêu nhà bạn? Sau đây là một số cách mà bất cứ ông bố, bà mẹ nào cũng dễ dàng làm được:
•    Rửa tay là cách hiệu quả nhất trong phòng chống vi trùng. Tay trẻ là nơi ẩn chứa rất nhiều dạng vi trùng khác nhau, do thường xuyên tiếp xúc với các bề mặt bẩn, đất cát hay chơi đồ chơi, thậm chí lây nhiễm từ trẻ đang mang mầm bệnh sang do chơi cùng đồ chơi tại trường. Do đó việc rửa tay thường xuyên, đặc biệt là trước khi ăn bằng xà phòng có tác dụng diệt khuẩn cho trẻ. Bên cạnh đó, ngay cả người lớn cũng cần chú ý vệ sinh tay thật sạch trước khi pha chế thức ăn cho trẻ.

Thường xuyên vệ sinh những vật dụng, đồ chơi, đồ đạc mà trẻ hay tiếp xúc: Đây là những thứ tiềm ẩn ổ bệnh nguy hại mà tay trẻ tiếp xúc rồi quệt lên má, đưa vào miệng, vào mũi… Thậm chí có nhiều loại vi trùng gây bệnh xâm nhập cơ thể theo đường hô hấp rất nguy hiểm và sống trên những đồ đạc để ẩm mốc lâu ngày. Cách tốt nhất là dùng các chất tẩy rửa vệ sinh đảm bảo an toàn và có khả năng diệt khuẩn để lau rửa những vật dụng, đồ chơi một cách thường xuyên. Tốt nhất là một đến hai ngày vệ sinh một lần.

  • Vệ sinh sàn nhà hàng ngày.Trong thực tế, sàn nhà chính là nơi tiềm ẩn rất nhiều loại vi trùng, đồng thời lại là nơi mà trẻ nhỏ tiếp xúc thường xuyên và nhiều nhất. Việc vệ sinh sàn nhà hàng ngày là vô cùng cần thiết, tuy nhiên có thể diệt sạch vi khuẩn bám dính trên đó không phải là vấn đề đơn giản. Cách tốt nhất là dùng những chất tẩy rửa sàn nhà chuyên dụng có khả năng diệt khuẩn cao và được nhiều người tin dùng
  • Đeo khẩu trang, quàng khăn, đội mũ cho trẻ khi đi ra đường: Mùa thu, nhất là buổi sáng và chiều muộn trời rất nhiều sương mù. Trong loại sương này có quyện theo rất nhiều bụi bặm và vi khuẩn gây bệnh. Đeo khẩu trang cho bé, đội mũ và quàng khăn giữ ấm là một giải pháp phòng bệnh khá hữu hiệu đối với trẻ.

Trường Mầm non IQ chúc các bé luôn khỏe mạnh!

Các giai đoạn chuẩn bị cho trẻ đến trường mẫu giáo

Con chuẩn bị đi học trường mầm non đã làm cho các bà mẹ băn khoăn lo lắng về sự thích nghi đến môi trường học của con mình như thế nào? Quả thật, việc chuẩn bị cho con đi học cũng rất cần thiết bởi mỗi trẻ có những đặc điểm riêng.

Có những trẻ nhanh chóng thích nghi với môi trường mới lạ, thậm chí không có bất cứ sự thay đổi nào như: ăn ngủ bình thường, chơi với bạn và hòa nhập cộng đồng bình thường; ngược lại có những trẻ rất khó khăn khi đến môi trường mới khác lạ với gia đình như: khóc lóc suốt ngày; ốm ngay sau ngày đi học đầu tiên; sợ sệt… Thực tế cho thấy, trẻ bước vào cuộc sống tự lập càng sớm bao nhiêu, càng tốt bấy nhiêu, càng nhanh chóng thích nghi bấy nhiêu. Vậy chúng ta cần chuẩn bị cho trẻ đi học như thế nào?

1. Trước 12 tháng:

Tìm hiểu những trường mẫu giáo tại địa phương hoặc địa bàn nơi bạn đang sống: cách thức quản lý, dinh dưỡng, chương trình dạy học,…
Thăm một số trường bạn thích hoặc thấy ấn tượng trong giờ học, hoặc giờ chơi. Một vài trường có tổ chức những tour tham quan chính thức, trong khi một số trường khác lại yêu cầu bạn phải đặt cọc một món tiền nho nhỏ để đảm bảo vị trí chính thức của con bạn trong trường ở năm học sắp tới.

2. Trước 4 tuần:

Cân nhắc lại xem chương trình của các trường, tìm hiểu xem giáo viên sẽ giúp đỡ trẻ hòa nhập vào trường lớp, bạn bè thế nào.
Cần điều chỉnh kế hoạch, thời gian biểu của con bạn (nhất là giờ ngủ, những giấc ngủ ngắn) cho phù hợp với kế hoạch,chế độ sinh hoạt ở trường mẫu giáo sắp tới để giúp trẻ quen dần.
Bắt đầu nói chuyện với con bạn về trường mẫu giáo mà bé sẽ được đến học, nhưng hãy nói một cách tự nhiên, làm như tình cờ. Có thể đề cập khi con bạn đang vẽ, ví dụ: “Đó là một nơi có rất nhiều niềm vui, nhiều bức tranh đẹp,…” Cũng nên nhớ rằng chỉ cần gợi cho con bạn hình dung và cảm thấy bị lôi cuốn; đừng nên nhồi nhét quá nhiều. Hãy mang tới một cách nhẹ nhàng và tế nhị một bí mật về ngôi trường trẻ sẽ tới.

3. Trước 3 tuần:

Đọc sách báo về trường, để làm cho con bạn hiểu hơn, có một ý niệm hình dung về trường mẫu giáo. Những câu chuyện sẽ lôi cuốn trẻ tham gia vào những cuộc hội thoại mà chủ đề chính là ngôi trường đó. Nhưng đừng chỉ tập trung duy nhất vào loại sách báo này, hãy đọc cho trẻ cả những câu chuyện ưa thích của trẻ như bình thường.
Cũng có thể trò chuyện về các bạn cùng trang lứa của con đang học ở trường, được làm nhiều thứ, có nhiều đồ chơi và các bạn.

4. Trước 2 tuần:

Mua sắm đồ dùng đến trường cho trẻ. Hãy nhờ trẻ giúp bạn mang những đồ vật mới này: quần áo, giày mũ, những đôi tất mới, balô,… Những niềm vui nho nhỏ này sẽ khiến trẻ hứng thú, háo hức được tới trường hơn.

5. Trước 1-2 tuần:

Nếu có thể, hãy dắt con bạn đi ngang qua trường, hoặc vào tận trường, đi thăm sân, tới từng lớp học, cho con bạn ngồi chơi với xích đu, những đồ chơi trong sân,… và thậm chí có thể cho con bạn nhìn qua cửa sổ lúc các bạn khác đang chơi, học. Điều này sẽ làm con bạn có một hình dung ban đầu về cuộc sống ở trường mẫu giáo.

6. Trước 1 tuần:

Hãy cho trẻ đọc tên, gọi tên các đồ vật có trong phòng học.
Hãy cho trẻ được gặp cô giáo và thăm quan lớp học. Nếu có thể mời cô giáo đến nhà nói chuyện một chút với trẻ. Thêm vào đó có thể cho trẻ gọi tên hay biết tên một số bạn trong lớp (dù trẻ chưa gặp mặt).

7. Trước 1 ngày:

Chuẩn bị mọi thứ thật sự chu đáo: quần áo, balô, giầy dép, ảnh,… máy ảnh, máy camera,… Hãy nhớ rằng ngày mai chính là ngày đầu tiên con bạn trở thành một “sinh viên mẫu giáo”, bắt đầu một bước ngoặc lớn của cuộc sống. Nhưng đừng sợ hay lo lắng, hồi hộp, hay luôn tạo không khí vui tươi, chơi đùa với trẻ.

8. Ngày đầu tiên đi học:

Bạn hãy cho phép mình có thời gian đến lớp với trẻ, cùng trẻ ở lớp một lúc, thấy bạn ở trong lớp sẽ khiến trẻ cảm thấy nhanh chóng quen hơn. Nhiều trường cũng yêu cầu phụ huynh ở lại lớp trong giờ học đầu tiên, ít nhất là trong buổi đầu của trẻ.
Nếu trường hợp con bạn là trẻ khó thích nghi, những ngày đầu có thể cho trẻ đến chơi hoặc học nửa ngày để trẻ cảm thấy thời gian ở trường không bị dài. Sau kéo dãn thời gian để trẻ tập dần với cuộc sống ở trường.

9. Trong một vài tuần đầu:

Những đứa trẻ sẽ quen dần với sự thay đổi. Nếu có thể, hãy cùng trẻ ở lại lớp học trong thời gian mà trẻ cần, trao đổi với giáo viên, chơi đùa với trẻ.

Cách người Mỹ dạy trẻ mẫu giáo

(GD&TĐ) – Một nhà khoa học đoạt giải Nobel khi được hỏi, ở đâu ông học được những kiến thức khiến ông trở nên vĩ đại như vậy? Ông đã trả lời rằng: Nơi tôi học được nhiều nhất đó là vườn trẻ, vì rằng, ở đó người ta dạy tôi cách biết tuân thủ các quy định, biết nói xin lỗi khi mình sai

Có lẽ sẽ là thừa khi chúng ta nhắc lại ở đây những lý luận nhằm chứng minh vai trò rất quan trọng của giáo dục trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo đối với quá trình phát triển nhân cách của trẻ. Tuy nhiên, câu trả lời sẽ trở nên thú vị, khi chúng ta tìm hiểu việc giáo dục trẻ em độ tuổi mẫu giáo ở Mỹ, nơi nền giáo dục được coi là hiện đại và tiên tiến bậc nhất trên thế giới.

Dạy trẻ từ tính tự lập

Người Mỹ rất coi trọng tinh thần độc lập, tự lực cánh sinh của mỗi người. Vì thế, ngay từ khi trẻ một tuổi rưỡi, họ đã bắt đầu dạy cho trẻ các kỹ năng tự phục vụ bản thân. Họ cho rằng, nắm bắt các kỹ năng tự phục vụ có thể giúp trẻ tăng cường tính độc lập và cảm giác về sự thành công, nó không chỉ có lợi cho sự phát triển của trẻ mà còn giúp ích rất nhiều cho chính những người lớn.

Những người làm công tác giáo dục mẫu giáo ở Mỹ đều được nhấn mạnh việc giáo dục cho trẻ những kỹ năng tự phục vụ. Bất cứ sự chăm sóc nào từ phía người lớn cũng phải tạo cho trẻ những cơ hội để rèn luyện cho trẻ các kỹ năng này. Đồng thời, họ cũng đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ của gia đình để giúp các kỹ năng mà trẻ được dạy ở lớp được rèn luyện và thực hành ngay tại nhà.

Các kỹ năng tự phục vụ của trẻ bao gồm: Buộc dây giầy, mặc quần áo, cài cúc áo, kéo phéc-mơ-tuya, rửa mặt, đánh răng, chải đầu, ăn cơm,… Tuy nhiên, những kỹ năng này không đồng nhất ở tất cả các giai đoạn phát triển của trẻ. Các nhà nghiên cứu, sau nhiều năm nghiên cứu và quan sát đã chỉ ra rằng: Trẻ từ 18-24 tháng có thể tự dùng cốc uống nước, có thể tự nhặt lấy đồ chơi; trẻ từ 2-3 tuổi có thể học cách tự mình đi đại tiểu tiện, ăn cơm, mở phéc-mơ-tuya và mặc quần áo; trẻ từ 3-4 tuổi, tính độc lập của trẻ đều phát triển mạnh, những kỹ năng đã học được ở trên đều trở nên thành thục hơn, gần như trẻ có thể làm mà không cần sự giúp đỡ của người lớn; trẻ từ 5-6 tuổi, trẻ có thể học cách tự rửa bát, sắp xếp đồ đạc của mình ngay ngắn,…

Những giáo viên mẫu giáo Mỹ khi rèn luyện cho trẻ khả năng tự lập thường dùng phương pháp là: Đồng thời với việc đề ra nhiệm vụ, họ cũng đưa ra những điều kiện để trẻ có thể hoàn thành nhiệm vụ một cách dễ dàng hơn. Chẳng hạn, để dạy trẻ tự mang giày, họ thường đưa cho trẻ những đôi giày to hơn một chút so với cỡ chân của các em. Hoặc để dạy trẻ tự rót nước sữa, họ đưa cho trẻ những bình sữa có miệng to giúp trẻ thực hiện công việc một cách dễ dàng hơn. Cách làm như vậy sẽ gây cho trẻ hứng thú cũng như tự tin trong việc hoàn thành các “nhiệm vụ”.

Đến sự lễ phép

Ở các trường mẫu giáo ở Mỹ, ngoài việc khơi mở trí lực giai đoạn đầu cho trẻ, người ta rất coi trọng việc dạy cho trẻ các quy tắc lễ nghi. Yêu cầu đối với mỗi em là phải nghe theo lời chỉ bảo của các giáo viên, học cách tham gia các hoạt động tập thể cùng với những học sinh khác. Trong các trường mẫu giáo ở Mỹ, mỗi khi có một bạn nhỏ hắt xì, sẽ phải nói với những người bạn xung quanh của em rằng: “Xin lỗi!”, ngược lại, những người bạn của em sẽ nói: “Chúc phúc cho cậu!”. Điều này đã trở thành một hành vi tự giác của trẻ.

Đối với những trẻ em phạm lỗi, không nghe lời,… người ta thường dùng phương pháp “phạt ở một mình”. Lý do là, trẻ em ở độ tuổi này sợ nhất là việc phải ở một mình. Hơn nữa, phương pháp này cũng có tính khoa học của nó. Khi trẻ bình tĩnh trở lại, mới giảng giải điều hay lẽ phải cho trẻ hiệu quả sẽ cao hơn rất nhiều. Tất nhiên việc “giam” một mình đối với trẻ có phần nào đó khó chấp nhận đối với các bậc phụ huynh, tuy nhiên, nó có thể tạo được ảnh hưởng tích cực, đó chính là giúp trẻ hình thành thói quen giữ bình tĩnh trở lại khi đang tức giận. Nổi nóng ở những nơi công cộng là điều dường như không ai có thể chấp nhận được ở Mỹ. Do đó có thể khống chế được tình cảm của bản thân, bất luận trong tình huống như thế nào cũng có thể bình tĩnh ứng xử là một nội dung quan trọng trong các mối quan hệ công chúng ở Mỹ. Phong độ cũng như sự trầm tĩnh của người Mỹ, có lẽ liên quan nhiều đến phương pháp giáo dục ngay từ độ tuổi mẫu giáo này.

Trong việc giáo dục những lễ nghi ứng xử cho trẻ ở giai đoạn này, một trong những yếu tố rất được đề cao là vai trò của người giáo viên. Ở độ tuổi mẫu giáo, những điều trẻ học được không phải là những lý giải mà là những mô phỏng. Vì thế, nếu như những thầy cô giáo ở trường có thái độ không tốt đối với trẻ, chúng sẽ học theo các thầy cô, đối xử không tốt với bạn bè và người xung quanh. Nói cách khác, hành vi của giáo viên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lý cũng như sự hình thành tính cách của trẻ. Do đó, những giáo viên mẫu giáo ở Mỹ đều phải thông qua những yêu cầu rất nghiêm ngặt về trình độ. Bên cạnh yêu cầu trình độ cử nhân trở lên, những giáo viên này còn phải thông qua một chương trình tập huấn chuyên nghiệp và đạt được “Chứng chỉ giáo viên mẫu giáo” hoặc “Chứng chỉ giáo viên tiểu học”. Những năm gần đây, một số bang của Mỹ còn đưa ra yêu cầu trình độ tối thiểu là thạc sỹ đối với các giáo viên ở trường mẫu giáo.

Sự tôn trọng: Chất “dinh dưỡng” đặc biệt

Ở Mỹ, việc tôn trọng trẻ em không chỉ vì chúng nhỏ tuổi, cần sự ưu ái, quan tâm, chăm sóc mà còn vì trong quan niệm của họ, mỗi đứa trẻ ngay từ khi ra đời đã là một cá thể độc lập, có cá tính và những mong muốn độc lập của mình. Bất kể là bố mẹ hay thầy cô giáo đều không có đặc quyền chi phối và hạn chế hành vi của chúng. Đặc biệt là trẻ em, sau này trưởng thành, cha mẹ hay thầy cô không thể thay thế chúng trong những lựa chọn mà chúng phải đối mặt trong hiện thực. Vì thế, cần phải làm cho trẻ cảm thấy rằng, bản thân chúng, chứ không phải ai khác là chủ nhân của mình.

Chẳng hạn, người Mỹ rất chú ý đến phương pháp cũng như giọng điệu khi nói chuyện với trẻ. Khi nói chuyện với trẻ, người lớn không chỉ phải chăm chú nghe mà có lúc còn phải quỳ xuống để nói chuyện với trẻ một cách “bình đẳng”, khiến trẻ cảm thấy được tôn trọng. Khi trẻ ăn cơm, không thể ép, khi trẻ phạm lỗi không nên quở mắng quá. lời, khi muốn trẻ thay quần áo, cũng không thể to tiếng quát nạt,… Nếu không, sẽ làm cho trẻ cảm giác nặng nề và tự ti.

Người Mỹ, khi đem con đến nhà người khác, nếu như chủ nhân đưa đồ ăn cho trẻ, họ sẽ không thay trẻ nói những câu đại loại như: “Không ăn đâu!”, “Không cần đâu!”,… Đồng thời, khi trẻ tỏ ý muốn ăn đồ ăn, họ cũng sẽ không to tiếng quát mắng. Họ cho rằng, trẻ muốn xem gì, ăn gì, bản thân nó không có gì sai, nếu như trẻ có nhu cầu đó, không có lý do gì có thể chỉ trích chúng cả. Điều những người lớn phải làm là, căn cứ vào thời điểm thích hợp mà đưa ra sự giảng giải thích hợp để trẻ hiểu, với tư cách là “người hướng dẫn”. Người Mỹ phản đối việc dạy dỗ con cái trước mặt người khác, càng không cho phép việc trách mắng là “ngu dốt”, “chẳng làm nên trò trống gì”, “không có chí khí”,… trước mặt nhiều người. Vì rằng, cách dạy dỗ đó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến lòng tự tin cũng như sự phát triển về sau của trẻ.

Nhà giáo dục vĩ đại John Locke từng nói: “Bố mẹ không nói nhiều đến các lỗi của con cái thì chúng sẽ ngày càng coi trọng danh dự của bản thân, từ đó cố gắng để đạt được những lời khen ngợi của người khác đối với mình. Nếu như cha mẹ trước mặt mọi người nhắc đến lỗi lầm của trẻ sẽ khiến chúng xấu hổ. Trẻ em càng cảm thấy danh dự của bản thân bị tổn hại, lại càng ít chú ý đến việc giữ gìn danh dự”. Có người cho rằng, người Mỹ đã tôn trọng con cái một cách quá đáng, nhưng thực tế đã chứng minh, những trẻ em được bố mẹ chúng tôn trọng tỏ ra rất hợp tác với bố mẹ, hữu hảo với bạn bè, rất lễ phép, không có cảm giác mất tự nhiên khi nói chuyện với người lớn.

Hai mươi phút quan trọng trong ngày

Nhiều nhà giáo dục Mỹ kêu gọi các bậc cha mẹ dành 20 phút mỗi ngày để đọc sách cho con cái của mình nghe. Hai mươi phút là thời gian không dài nhưng sẽ rất hữu ích với trẻ. Qua giọng đọc rủ rỉ của cha mẹ mỗi ngày, hứng thú về việc đọc sách sẽ dần được hình thành trong trẻ. Bên cạnh đó, thực tiễn đã chứng minh, việc trẻ được nghe đọc sách thường xuyên có thể giúp trẻ tăng cường khả năng chú ý, vốn từ vựng, kích thích, khơi gợi trí tưởng tượng, mở rộng tầm nhìn và kiến văn cho trẻ,… Vì thế, ở Mỹ các chuyên gia đều khuyên các bậc phụ huynh đọc sách cho trẻ nghe càng sớm càng tốt.
Người Mỹ rất chú trọng việc đọc sách cho trẻ nghe mỗi ngày. Tại bang Hawaii nước Mỹ, các nhà giáo dục kết hợp với chính quyền nơi đây đã tổ chức cả một hoạt động quy mô: “Hãy đọc vì trẻ em”, kêu gọi các bậc phụ huynh mỗi ngày dành ít nhất là 10 phút để đọc sách cho trẻ nghe. Hoạt động này nhanh chóng lan rộng ra các bang khác của Mỹ với quy mô ngày càng lớn. Từ đó, không ít các tập đoàn kinh tế, tổ chức và tham gia các loại hoạt động tương tự, đồng thời gọi đó là: “Hai mươi phút quan trọng nhất trong ngày của bạn”.

Tiểu kết

Lâu nay, người ta nói nhiều, bàn nhiều đến giáo dục Mỹ với một sự ngưỡng vọng về một nền giáo dục hiện đại và phát triển nhất thế giới. Điều gì tạo nên thành công của nền giáo dục Mỹ? Nguyên nhân thì có rất nhiều, song, có lẽ một trong những nguyên nhân quan trọng là người Mỹ đã quan tâm một cách thực sự đến việc giáo dục và đào tạo con người ngay từ giai đoạn đầu tiên. Cách mà người Mỹ dạy trẻ em ở độ tuổi mẫu giáo có lẽ sẽ cho chúng ta nhiều gợi ý về một sự quan tâm đúng mức trong việc giáo dục trẻ ở giai đoạn này.

(Theo Chungta)

Biểu hiện và chăm sóc bé bị chân tay miệng

Chưa năm nào dịch tay chân miệng nóng như năm nay với hơn 20.000 ca mắc, 56 trường hợp tử vong. Đáng nói, dấu hiệu bệnh rất điển hình nhưng nhiều người vẫn nhầm với các bệnh có phát ban khác, nên không theo dõi chặt để kịp thời phát hiện biến chứng.

Vì thế, Bộ Y tế vừa ban hành “Hướng dẫn chẩn đoán điều trị bệnh tay chân miệng”, áp dụng tại tất cả các cơ sở y tế và cũng hướng dẫn người dân tự theo dõi để phát hiện khi con có dấu hiệu nghi ngờ, kịp thời đưa bé đi khám bệnh và theo dõi nguy cơ biến chứng.
Dưới đây là các dấu hiệu nhận biết, phân biệt bệnh tay chân miệng với các bệnh có biểu hiện loét miệng, các bệnh có phát ban da.

Bệnh tay chân miệng
Bệnh tay chân miệng gặp rải rác quanh năm ở hầu hết các địa phương. Tại các tỉnh phía Nam, bệnh có xu hướng tăng cao vào hai thời điểm từ tháng 3 đến tháng 5 và từ tháng 9 đến tháng 12 hàng năm.
Giai đoạn ủ bệnh tay chân miệng từ từ 3-7 ngày. Tiếp đến là giai đoạn khởi phát diễn ra từ 1 – 2 ngày với các triệu chứng như sốt nhẹ, mệt mỏi, đau họng, biếng ăn, tiêu chảy vài lần trong ngày.

benh chan tay mieng

Dấu hiệu điển hình của tay chân miệng là phát ban dạng phỏng nước ở trong miệng, trong lòng bàn tay, lòng bàn chân…

Sau đó đến giai đoạn toàn phát (có thể kéo dài 3-10 ngày) với các triệu chứng điển hình của bệnh:

– Loét miệng: vết loét đỏ hay phỏng nước đường kính 2-3mm ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi, gây đau miệng, bỏ ăn, bỏ bú, tăng tiết nước bọt.

– Phát ban dạng phỏng nước: Ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông; tồn tại trong thời gian ngắn (dưới 7 ngày) sau đó có thể để lại vết thâm, rất hiếm khi loét hay bội nhiễm.

– Ngoài ra trẻ vẫn có sốt nhẹ, nôn. Còn những trẻ sốt cao và nôn nhiều dễ có nguy cơ biến chứng. Biến chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp thường xuất hiện sớm từ ngày 2 đến ngày 5 của bệnh.

Giai đoạn lui bệnh: Thường từ 3-5 ngày sau, trẻ hồi phục hoàn toàn nếu không có biến chứng.

Bệnh lây chủ yếu theo đường tiêu hoá. Nguồn lây chính từ nước bọt, phỏng nước và phân của trẻ nhiễm bệnh.
Tuy nhiên, cũng có những trẻ mắc bệnh nhưng không có những dấu hiệu điển hình như trên. Theo đó, dấu hiệu phát ban không rõ ràng hoặc chỉ có loét miệng hoặc chỉ có triệu chứng thần kinh, tim mạch, hô hấp mà không phát ban và loét miệng.

CÁCH CHĂM SÓC BÉ BỊ CHÂN TAY MIỆNG TẠI NHÀ

Hầu hết trẻ mắc bệnh tay chân miệng (TCM) độ 1 đều được theo dõi và chăm sóc tại nhà theo hướng dẫn của bác sĩ điều trị. Tuy nhiên, chăm sóc trẻ mắc bệnh TCM tại nhà cần phải đúng cách…
Nếu gia đình có nhiều trẻ cùng chung sống, nên cách ly tuyệt đối giữa trẻ lành và trẻ bệnh bằng nhiều cách tùy theo hoàn cảnh gia đình như giởi trẻ lành tạm thời ở một nơi khác, khuyến khích trẻ bệnh không nên chơi chung với trẻ lành, cần giám sát chặt chẽ các hoạt động của trẻ bệnh trong sinh hoạt thường nhật…

Người lớn khi tiếp xúc và chăm sóc trẻ bệnh nên mang khẩu trang y tế cho mình và cho cả trẻ bệnh, sau khi tiếp xúc nên rửa tay sạch sẽ bằng xà phòng và nước sạch ngay để hạn chế sự lây lan khi phải chăm sóc trẻ lành.

Giữ gìn vệ sinh cá nhân tốt giúp trẻ mau lành bệnh

Thường xuyên tắm rửa sạch sẽ cho trẻ hàng ngày bằng xà phòng nước sạch giúp hạn chế sự lan truyền bệnh TCM cho người lành và ngăn ngừa tình trạng bội nhiễm vi khuẩn có thể gây hại đến sức khỏe của trẻ.
Khuyến khích trẻ thường xuyên rửa tay sạch sẽ, đúng cách bằng xà phòng và nước sạch dưới vòi nước chảy để ngăn ngừa sự tái nhiễm bệnh TCM qua đường tay – miệng nhằm loại bớt sự bám dính của virút gây bệnh tay chân miệng trên đôi tay của trẻ.
Quần áo, tã lót của trẻ bệnh nên được ngâm dung dịch sát khuẩn như dung dịch Cloramin B 2% hoặc luộc nước sôi trước khi được giặt sạch sẽ bằng xà phòng và nước sạch.
Vật dụng cá nhân ăn uống của trẻ như bình sữa, ly uống nước, chén ăn cơm, muỗng ăn…nên được luộc sôi và sử dụng riêng biệt cho từng trẻ.

Chăm sóc trẻ mắc bệnh CTM tại nhà tuyệt đối tránh 3 quan niệm sai lầm thường gặp sau đây: kiêng tắm, kiêng gió – ủ trẻ quá kỹ – châm chích cho mụn nước mau vỡ ra, đây chính là những nguyên nhân làm cho bệnh của trẻ trầm trọng hơn và là con đường ngắn nhất của tình trạng bội nhiễm vi khuẩn rất nguy hiểm đến tính mạng của trẻ.

Tạo môi trường sống trong lành và an toàn

Người chăm sóc trẻ như cha mẹ, ông bà, người giữ trẻ… cần giữ sạch đôi tay qua việc rửa tay sạch sẽ bằng xà phòng và nước sạch trước khi chế biến thức ăn, trước khi cho trẻ ăn và sau khi làm vệ sinh, thay tã lót cho trẻ nhằm hạn chế sự gieo rắc virút gây bệnh TCM cho những trẻ lành khác trong gia đình.
Đồ chơi và vật dụng thường dùng của trẻ cần phải được tẩy trùng sạch sẽ bằng những dung dịch sát khuẩn được ngành Y tế khuyên dùng như dung dịch Cloramin B 2%, dung dịch nước Javel hoặc xà phòng sát khuẩn để tạo tính an toàn cho trẻ khi sử dụng.
Phòng ốc nơi trẻ sinh hoạt cần thông thoáng, đủ dưỡng khí nhất là sàn nhà nên được lau chùi sạch sẽ thường xuyên bằng các dung dịch khử khuẩn nhằm tạo điều kiện sạch sẽ và an toàn cho trẻ khi sinh hoạt và chơi đùa.

Những điều có thể mẹ chưa biết khi cho bé ăn phô mai

Trong quá trình thăm khám dinh dưỡng, bác sĩ Lê Thị Hải gặp rất nhiều thắc mắc của các mẹ về cách cho bé ăn phô mai và bơ. Vậy cho bé ăn phô mai thế nào là đúng nhất?

1. Giá trị dinh dưỡng của phô mai, bơ

– Trước hết, các mẹ nên biết rằng cả bơ và phô mai đều là những sản phẩm được làm từ sữa.
– Bơ không có chất đạm và hàm lượng chất béo rất cao (83,5%), được xếp vào nhóm thực phẩm giàu chất béo. Còn phô mai có hàm lượng chất đạm rất cao (25,5%) và được xếp vào nhóm thực phẩm giàu chất đạm.
– Phô mai giàu canxi hơn bơ rất nhiều lần: 100 gram phômai có 760mg canxi, trong khi đó 100 gram bơ chỉ có 12mg canxi mà thôi.

2. Độ tuổi nên cho bé ăn phô mai

Có khá nhiều quan điểm khác nhau về thời điểm nên cho bé làm quen với phô mai, bơ. Các chuyên gia dinh dưỡng ở Anh thì cho rằng, khoảng 6 tháng tuổi là bé có thể ăn được phô mai, bơ. Nhưng một số chuyên gia ở Mỹ lại gợi ý, cha mẹ chỉ nên cho bé làm quen với món ăn này khi bé được khoảng 8 tháng tuổi. Ngoài ra, một số ít cho rằng, do phô mai, bơ thuộc nhóm sản phẩm từ sữa bò nên chỉ an toàn cho bé 1 tuổi trở lên vì khả năng gây dị ứng cho nhóm bé có cơ địa mẫn cảm với sữa bò.
Vì vậy, bác sĩ Hải khuyên các mẹ có thể cho bé sử dụng phô mai, bơ từ khi bé bắt đầu bước vào tuổi ăn dặm (tức là 6 tháng tuổi) nhưng nên cho bé ăn từ từ từng ít một và thăm dò phản ứng của con, nếu thấy bé xuất hiện dấu hiệu lạ khi ăn phô mai, cha mẹ cần tạm ngưng ngay và hỏi ý kiến bác sĩ.

3. Có thể dùng bơ hoặc phô mai thay cho sữa, thịt, cá để nấu bột/ cháo cho bé được không?

Bác sĩ Lê Thị Hải (Viện Dinh dưỡng Quốc gia) cho biết: “Trong dinh dưỡng có một nguyên tắc là chỉ những thực phẩm trong cùng một nhóm mới có thể thay thế được cho nhau mà thôi. Vì vậy, phô mai có hàm lượng đạm cao nên có thể thay cho thịt, cá, trứng, sữa.. (vì cùng nhóm giàu đạm) nhưng bơ thì không. Bơ chỉ được dùng để thay thế cho dầu ăn hoặc mỡ (vì cùng nhóm giàu chất béo)”.
Tuy nhiên, bác sĩ Hải khuyến cáo các mẹ không nên vì thế mà lạm dụng phô mai vì cho bé ăn nguyên phô mai sẽ không cân đối hàm lượng dinh dưỡng. Trong phô mai chỉ có đạm, carbohydrate, chất béo, canxi chứ không có đầy đủ các vitamin, khoáng chất cần thiết cho cơ thể, vì thế chỉ nên cho con ăn phô mai như một bữa phụ, hoặc kết hợp với các sản phẩm khác như bánh mì, trộn vào bột, cháo…

 

pho mai

Phô mai

4. Những lưu ý mẹ cần biết khi cho bé ăn phô mai, bơ

– Tất cả các loại phô mai đều có nguồn gốc từ sữa, vì vậy nếu bé nhà bạn có tiền sử dị ứng sữa do bất dung nạp đường lactose thì mẹ nên chú trọng bổ sung phô mai vào chế độ dinh dưỡng của con.
– Để cân đối dinh dưỡng cho bé, mẹ cần biết một điều là khi kết hợp phô mai với cháo thì cần bớt đi một chút thịt/ cá/ tôm… tránh trường hợp bị thừa đạm. Bởi vì một bát cháo nấu đúng như tính toán dinh dưỡng theo độ tuổi đã cung cấp đủ nhu cầu năng lượng, chất béo, khoáng chất cho trẻ, nếu trộn thêm phô mai, tức là bát cháo đã được cộng thêm phần năng lượng, chất đạm, béo chứ không riêng gì canxi.
– Vì trong phô mai có cả chất béo vì thế các mẹ cũng nên bớt đi chút dầu/ mỡ ăn trong bát cháo của con.
– Không nên chỉ sử dụng phô mai làm nguồn cung cấp canxi cho cơ thể bé, mẹ có thể chọn các loại thực phẩm giàu canxi khác như cua đồng, tôm đồng…
– Mẹ không nên kết hợp phô mai với các thực phẩm như: như cua, lươn, rau mồng tơi, rau dền… vì sẽ khiến bé dễ bị đau bụng. Mẹ hãy chọn những thực phẩm phù hợp với vị phô mai như khoai tây, cà rốt, thịt bò, gà, tôm…
– Lúc nào bé không chịu ăn thịt, cá hoặc khi mẹ quá bận không thể chuẩn bị một bữa ăn cầu kỳ cho bé thì có thể nấu nhanh món cháo với phô mai, bơ theo hướng dẫn sau của bác sĩ Hải:
Nguyên liệu: bột/ cháo tùy lượng ăn của trẻ theo lứa tuổi; một miếng phô mai (15g); 20g bí đỏ; 5g dầu ăn hoặc bơ.
Cách nấu: Bí đỏ luộc chín, tán nhuyễn hoặc cắt miếng nhỏ vừa ăn. Nấu chung bí với bột/ cháo cho đến khi chín. Bắc xuống để cho bột nguội bớt (khoảng 2 phút), cho phô mai tán nhuyễn vào từ từ, cho thêm dầu ăn hoặc bơ vào trộn đều. Đổ bột ra bát. Để nguội bớt, cho bé ăn.
Với số lượng như trên, bát bột sẽ cung cấp: 170 Kalo; 5,2g chất đạm; 8,9g chất béo; 17,6g chất bột đường; 124mg canxi.